.:Trường Đại học Tiền Giang:. 

Chia sẻ

TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC NHÌN TỪ TÁC PHẨM DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH.

11-03-2022

TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

NHÌN TỪ TÁC PHẨM DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH.

-----------------------

                                                                                                 Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trường Đại học Tiền Giang

             Suốt cuộc đời của Người, mối quan tâm hàng đầu là vấn đề đoàn kết. Theo Người đại đoàn kết là nhằm tập hợp lực lượng, phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh quốc tế, vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội. Có thể khẳng định tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc. Chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề đại đoàn kết trong các bài viết của Người. Trong Hồ Chí Minh toàn tập có khoảng 1.921 bài nói chuyện, bài viết của Người đề cập đến vấn đề đại đoàn kết thì có khoảng hơn 839 bài (chiếm 43%), cụm từ đoàn kết tới 1.809. Ngay trong Di chúc, Người sử dụng 8 lần từ đoàn kết với ba nội dung lớn: đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.

             Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử vô giá kết tinh những tinh hoa đạo đức và tâm hồn cao đẹp, những nội dung cơ bản, những quan điểm cốt yếu trong đó có tư tưởng của Người về đoàn kết dân tộc. Nhà sử học người Pháp Alain Ruscio đã nhận xét: “Có thể nói bản Di chúc này thâu tóm tất cả trong một mong muốn to lớn mà Người luôn ấp ủ: đó là sự đoàn kết”. “Đại Đoàn kết dân tộc đóng vai trò hàng đầu trong tư tưởng Hồ Chí Minh và tôi nghĩ rằng đó cũng là mục tiêu đồng thời là mong muốn mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang hướng tới” (1).

             1 Vị trí, vai trò của đại đoàn kết

             Kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Người viết: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó; Đoàn kết là lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi” (2). Thực tiễn lịch sử Việt Nam chứng minh, nhờ có đoàn kết nên dân tộc Việt Nam đã dựng nước và giữ được nước. Trong thời đại Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc thể hiện rõ ràng, cụ thể hơn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đây Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, làm nên thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất nước nhà và hơn 30 năm đổi mới. Đại đoàn kết dân tộc là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững ổn định chính trị và độc lập dân tộc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có thể khẳng định mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đều gắn với sức mạnh tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc. Chính vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng.

             2. Tư tưởng đoàn kết dân tộc nhìn từ Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

             Theo Hồ Chí Minh “…chỉ đoàn kết trong Đảng, cách mạng không thành công được, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước” Ngay từ rất sớm Người nhận thấy đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc.

Khi nghiên cứu tư tưởng của Người về đại đoàn kết, trong các bài nói bài viết ta thấy Người, đề cập đến nguyên tắc, phương pháp để thực hiện đại đoàn kết. Trong Di chúc, Người chỉ rõ, khối đoàn kết dân tộc quyết định bởi sự quan tâm của Đảng đề ra chính sách cụ thể đối với các tầng lớp nhân dân. Người chỉ rõ:

            Với đoàn viên thanh niên, “Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”; Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Có thể thấy đây chính là sự tổng kết lý luận mà Hồ Chí Minh rút ra từ lịch sử nhân loại, dân tộc; từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh niên của Người qua các thời kỳ cách mạng, để tiếp tục định hướng việc giáo dục rèn luyện và phát huy mọi tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

           Và trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của người nông dân và trân trọng đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho nông dân: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”. Có thể nói đây là những lời căn dặn đầy tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nông dân và trong suốt 50 năm qua đã được Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện.

          Trong bản Di chúc sửa vào năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh “thấy cần phải viết thêm mấy điểm”, trong đó, Người đã dành cho phụ nữ tình cảm, sự quan tâm đặc biệt. Người căn dặn “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo”.

          Với thương binh, thân nhân gia đình thương binh liệt sỹ “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, chiến sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”…”. Ngay đối với nạn nhân của chế độ xã hội cũ, Người cũng nhắc nhở “Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp đỡ họ trở nên những người lao động lương thiện”. Đây không chỉ là chiến lược tập hợp lực lượng rộng rãi mà còn là tư tưởng nhân ái, bao dung của Hồ Chí Minh.

           Qua đó, có thể nói toàn bộ chính sách mà Người nêu ra đó là công việc đối với con người. Công việc đó, Người căn dặn hướng dẫn rất cụ thể và tỉ mỉ. Mục tiêu của các chính sách đó thể hiện ở ý cuối cùng của Di chúc “ Điều mong cuối cùng của tôi là: toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

           Trong giai đoạn hiện nay, để có khối đoàn kết đông đảo, rộng rải, mạnh mẽ và vững chắc, thiết nghĩ Đảng ta phải có những chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước, thực tế khách quan của thế giới và phải đáp ứng nhu cầu nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Đó là cách tốt nhất để tập hợp lực lượng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng./

 

(1) TTXVN (2009)  Đoàn kết là cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phỏng vấn nhà nghiên cứu sử học người Pháp Alain Ruscio, Chủ tịch Trung tâm thông tin tư liệu Việt Nam tại Pháp, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề thuộc địa Pháp và Đông Dương, là tác giả của nhiều cuốn sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử cận đại  Việt Nam.

(2) Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, tr165,  NXB CTQG

Khoa Lý luận chính trị - Giáo dục Quốc phòng và Thể chất

Các tin khác :